Tìm hiểu về Bệnh Ung thư

sssssssssssssssssssssssss

 

  1. 1.KHÁI NIỆM UNG THƯ

Ung thư (UT) là bệnh lý ác tính của tế bào trong cơ thể. Để hiểu về bệnh UT, chúng ta cần biết

điều sẽ xảy ra khi các tế bào bình thường trở thành ác tính.

thể con người do hàng tỉ tế bào tạo nên. Mỗi tế bào được như những viên gạch để xây dựng nên “tòa lâu đài” thể người. Bình thường, tế bào sinh trưởng phân chia để tạo ra tế bào mới chỉ khi thể cần chúng. Quá trình này diễn ra một cách tuần tự theo qui luật tự nhiên được xác định giúp thể khỏe mạnh.

Nếu trong quá trình phát sinh phát triển, tế bào bị tác động bởi các tác nhân gây tổn thương làm rối loạn các thành phần mang tính di truyền trong nhân tế bào thì chúng có thể sẽ trở nên ác tính, phân chia không tuân theo qui luật tự nhiên của cơ thể, phát triển không kiểm soát thành bệnh UT. Những tế bào này thể xâm lấn, gây tổn thương quan lân cận hoặc tách khỏi khối ban đầu đi vào mạch máu hoặc bạch huyết. Sự lan rộng của bệnh được gọi di căn.

  1. 2.ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH UNG THƯ

   Đa dạng: hơn 200 loại UT khác nhau trên thể con người. UT được gọi tên theo cơ quan, loại tế bào chúng được hình thành, dụ ung thư hình thành phổi gọi UT phổi, ung thư hình thành gan gọi UT gan. UT thể phát triển bất kỳ bộ phận hoặc quan nào của thể. mỗi bộ phận lại nhiều loại UT khác nhau do mỗi bộ phận đều được cấu tạo từ nhiều loại tế bào khác nhau. UT thể gặp hầu hết các bộ phận, quan của thể. Tuy nhiên, mỗi loại UT xu hướng gặp nhiều hơn những quan nhất định.

   Biểu hiện dưới dạng khối u ác tính: đa số bệnh UT biểu hiện dưới dạng các khối u ác tính. Khác với các khối u lành tính (chỉ phát triển tại chỗ, thường rất chậm, vỏ bọc), các khối u ác tính xâm lấn vào các tổ chức xung quanh hoặc đi tới hạch bạch huyết hoặc các quan xa, hình thành các khối u mới, tiếp tục xâm lấn, phá hủy các bộ phận của thể dẫn tới tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

   Bản chất kéo dài: bệnh UT thường biểu hiện mạn tính, quá trình phát triển lâu dài qua nhiều giai đoạn không dấu hiệu trước khi chúng được phát hiện. Triệu chứng đau chỉ dấu hiệu giai đoạn muộn của bệnh.

  Bệnh UT nhiều điểm khác nhau về:

+ Nguyên nhân gây bệnh.

+ Thời gian cách thức phát triển bệnh.

+ Cách dự phòng phát hiện sớm.

+ Phương pháp điều trị.


+ Khả năng điều trị khỏi tiên lượng bệnh,…

 

  1. 3.TÌNH HÌNH UNG THƯ VIỆT NAM

Việt Nam, ước tính mỗi năm thêm 150 nghìn người mắc bệnh UT khoảng 75 nghìn người chết UT. Tình hình mắc UT cũng xu hướng ngày càng tăng, nhất UT phổi, UT dạ dày, UT gan, UT đại – trực tràng, UT tuyến tiền liệt ở nam giới và UT vú, UT phổi, UT dạ dày, UT gan, UT buồng trứng, UT giáp trạng nữ giới. Bệnh UT nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nước ta.

Mười (10) loại ung thư phổ biến nhất nam giới xếp theo thứ tự giảm dần gồm: UT phổi, UT dạ dày, UT gan, UT đại – trực tràng, UT thực quản, UT vòm họng, UT hạch, UT máu, UT tuyến tiền liệt UT khoang miệng.

Mười (10) loại UT tỷ lệ mới mắc cao nữ giới theo thứ tự giảm dần là: UT vú, UT đại- trực tràng, UT phế quản – phổi, UT cổ tử cung, UT dạ dày, UT giáp trạng, UT gan, UT buồng trứng, UT hạch UT máu.

 

 

 

 

 

 

  1. 4.YẾU TỐ NGUY CỦA BỆNH UNG THƯ

 

4.1.  KHÁI NIỆM YẾU TỐ NGUY

Những yếu tố được coi tác nhân gây bệnh hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển gọi yếu tố nguy của bệnh. Khi một người yếu tố nguy này, không nghĩa chắc chắn sẽ bị bệnh. Tuy nhiên, nếu càng nhiều yếu tố nguy cơ, số lần thời gian tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ càng nhiều thì khả năng bị bệnh càng cao.

4.2.  PHÂN LOẠI YẾU TỐ NGUY GÂY UNG THƯ

Dưới 10% bệnh UT  phát sinh do các rối loạn từ bên trong thể, gồm các rối loạn nội tiết và tổn thương tính di truyền (các yếu tố nội sinh)- những yếu tố này thường không thay đổi được. Còn lại phần lớn UT phát sinh liên quan đến hành vi yếu tố môi trường sống; bao gồm các thói quen không lợi cho sức khỏe như hút thuốc; lạm dụng rượu, bia; chế độ dinh dưỡng không an toàn, không hợp lý; ít vận động thể chất; quan hệ tình dục không an toàn, yếu tố liên quan nghề nghiệp ô nhiễm môi trường, gọi chung các yếu tố ngoại sinh (từ bên ngoài cơ thể). Thật may mắn các yếu tố này thể thay đổi phòng tránh được.

  1. 4.2.1. Nhóm các tác nhân hóa học
  2. a.Khói thuốc

Hút thuốc nguyên nhân của 30% trong tổng số các loại UT người, bao gồm UT phổi, UT thanh quản, UT thực quản, UT khoang miệng, UT bàng quang, UT tụy và UT dạ dày. Riêng với UT phổi, hút thuốc nguyên nhân của trên 90% trường hợp.

Trong khói thuốc không chỉ chất nicotin ảnh hưởng đến hệ tim mạch còn trên 70 loại hóa chất độc hại khác nhau thể gây UT. Đặc biệt, trong số này tới 43 chất đã được chứng minh gây bệnh UT như benzopyren, nitrosamin, cadmium, niken, urethan, toluidin, riêng benzopyren là chất có khả năng 100% gây UT trên thực nghiệm.

Hút thuốc người tuổi càng trẻ, thời gian hút càng dài, số lượng thuốc hút trong một ngày càng nhiều thì càng nguy mắc UT cao. Nếu người hút thuốc kèm theo nghiện rượu thì nguy mắc UT càng cao hơn nữa.

Việt Nam, hút thuốc lào là yếu tố nguy cơ cao gây UT phổi và ăn trầu thuốc là yếu tố nguy cơ gây UT khoang miệng.


Người đang hút thuốc bỏ hút thì nguy gây UT sẽ giảm dần theo thời gian. Sau 5 năm ngừng hút thì nguy bị UT phổi giảm 50%, sau 10 năm ngừng hút thì nguy còn không đáng kể gần như người không hút.

Hút thuốc thụ động

Những người không hút thuốc nhưng sống cùng với người hút thuốc hít phải khói thuốc lá thì cũng nguy mắc các loại bệnh liên quan đến hút thuốc như chính người hút, nhất là đối với phụ nữ trẻ em. Đây được gọi hút thuốc thụ động. Dòng khói phụ từ đầu điếu thuốc lá cháy chứa các chất độc gây ung thư còn nhiều hơn dòng khói chính do người hút hít vào trong phổi của mình. vậy bỏ thuốc không những tốt cho sức khoẻ của chính người hút mà còn biện pháp hữu hiệu bảo vệ người thân, gia đình cộng đồng.

do không nên hút thuốc trong nhà

– Người mẹ hít phải nhiều khói thuốc trong thời kì mang thai dễ bị sẩy thai, con sinh ra thường thiếu cân, kém thông minh.

Trẻ em hít phải khói thuốc theo cách này cũng dễ mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới, hen phế quản, viêm tai giữa, ảnh hưởng tới tim một số bệnh đường ruột.

Trẻ bị bệnh hen, khi hít phải khói thuốc dễ lên cơn hen và bệnh trầm trọng hơn.

Trẻ sơ sinh hít phải khói thuốc lá có thể bị chết đột ngột.

  Sống cùng với người hút thuốc, trẻ em thường bắt chước dễ trở thành người nghiện thuốc lá sau này.

  1. b.Uống rượu, bia

Đa số mọi người đều biết uống nhiều rượu, bia không lợi cho sức khỏe, nhưng lẽ không nhiều người biết rằng uống rượu, bia thể làm tăng nguy gây ung thư. Lạm dụng rượu bia nguyên nhân gây ra nhiều loại ung thư như: UT miệng, UT họng, UT thanh quản, UT thực quản, UT gan, UT đại trực tràng UT vú. Tỷ lệ mắc UT gan nam giới cao thứ ba sau UT phổi UT dạ dày nguyên nhân chính do gan sử dụng rượu bia quá mức và nhiễm vi-rút viêm gan B.

Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới (WCRF) kiến nghị giới hạn khối lượng rượu, bia được tiêu dùng là: nam giới uống từ 2 đơn vị chuẩn trở xuống nữ giới từ 1 đơn vị chuẩn trở xuống. Trong đó, một đơn vị chuẩn đồ uống chứa 10 gam cồn tương đương 425 ml bia nhẹ, 285 ml bia thường, 100 ml rượu vang, 60 ml rượu mạnh, hoặc 30 ml rượu mùi.

  1. c.Chế độ ăn uống không hợp ô nhiễm thực phẩm

Chế độ ăn nhiều mỡ động vật, ít chất làm tăng nguy mắc UT đại trực tràng UT vú. Ngược lại, chế độ ăn ít chất béo, nhiều rau, hoa quả và các ngũ cốc dạng nguyên hạt, có thể làm giảm nguy mắc các loại UT.

Các chất bảo quản, chất nhuộm màu thực phẩm có nguồn gốc hóa học, các chất trung gian chuyển hóa và sinh ra từ thực phẩm bị nấm mốc lên men là nguyên nhân gây ra nhiều loại UT đường tiêu hóa như UT dạ dày, UT gan, UT đại tràng,…

Thịt hun khói, cá muối, các loại mắm và dưa muối, cà muối, nhất là dưa khú có nhiều muối nitrat, nitrit là các chất gây UT thực quản và dạ dày. Gạo và lạc là hai loại thực phẩm dễ bị nấm mốc Aspergillus flavus xâm nhiễm tiết ra một loại chất độc aflatoxin, gây UT gan nguyên phát.

  1. d.Ô nhiễm môi trường Hóa chất bảo vệ thực vật

nước ta, hóa chất bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu diệt cỏ) dùng phổ biến trong nông nghiệp là yếu tố nguy cơ gây UT vú và một số loại UT khác.

Chất độc màu da cam (dioxin)

Chất độc màu da cam (dioxin) đã để lại hậu quả nặng nề không những gây nên các dị tật bẩm sinh mà còn là yếu tố nguy cơ tiềm ẩn gây nhiều bệnh UT.

Hóa chất sử dụng trong công nghiệp (ung thư do nghề nghiệp)


Ước tính nhóm nguyên nhân này gây ra khoảng 2-8% trong tổng số các loại UT. Các loại UT nghề nghiệp do tiếp xúc trực tiếp trong môi trường lao động với da, hệ thống hấp tiết niệu.

 

Khói nhà máy tại Uông Bí, Quảng Ninh (nguồn: www.halong.gov.vn)

  Khái niệm bệnh UT nghề nghiệp: khi người lao động phải tiếp xúc với các chất gây UT hoặc có thể gây UT mà mắc bệnh UT được gọi là UT nghề nghiệp.

Các loại UT nghề nghiệp phổ biến bao gồm:

+ Ung thư phổi: chiếm vị trí thứ nhất trong các UT nghề nghiệp do người lao động tiếp xúc với amiăng hít phải bụi amiăng, tiếp xúc với các chất asen, cadmi, crôm, niken, silic,… Đặc biệt tiếp xúc với amiăng còn có nguy cơ gây UT màng phổi, UT màng bụng,…).

+ Ung thư bàng quang: khoảng 10% UT bàng quang nam giới 5% nữ giới liên quan đến nghề nghiệp. Những bệnh nhân bị UT bàng quang thường đã phải tiếp xúc với các chất gây UT như 2-naphthylamin 4-aminobiphenyl được sử dụng trong công nghiệp cao su. UT bàng quang cũng được coi UT nghề nghiệp khi người bệnh tiếp xúc với benzidin dùng trong công nghệ nhuộm nhiều ngành nghề khác nhau. Các chất trên đã bị cấm sử dụng ở nhiều quốc gia. Ngoài ra, ung thư bàng quang còn gặp các nghề thuộc da, sơn, đánh véc ni,

+ Ung thư máu hay bệnh bạch cầu: được xếp vào nhóm UT nghề nghiệp khi người bệnh tiếp xúc với benzen chất được sử dụng trong công nghiệp sản xuất hóa chất, dệt, sản xuất ô tô. Tùy thuộc vào thời gian nồng độ tiếp xúc nguy mắc bệnh UT máu cao hơn từ 2-4 lần so với người không tiếp xúc.

Ngoài ra, còn có một số bệnh UT nghề nghiệp phổ biến khác như UT da, UT mũi, UT miệng và UT gan.

4.2.2. Nhóm các tác nhân vật

  1. a.Bức xạ ion hóa

Bức xạ ion hóa như tia rơn ghen (tia X) phát ra từ máy chiếu chụp X quang, các chất phóng xạ dùng trong y học một số ngành khoa học, khả năng gây tổn thương gien sự phát triển tế bào. Loại nguyên nhân này chiếm 3% trong số các trường hợp UT. dụ: UT phổi công nhân khai thác mỏ uranium, UT da UT máu gặp ở một số người làm nghề tiếp xúc nhiều với tia X.

Tác động của tia phóng xạ gây UT người phụ thuộc vào một số đặc điểm của tiếp xúc như: tuổi, liều lượng tiếp xúc quan bị tiếp xúc. Tuổi càng nhỏ (nhất khi còn bào thai) thì mối nguy hiểm càng tăng cao. Liều lượng tiếp xúc càng nhiều thì nguy mắc UT càng cao. quan nhạy cảm với tia phóng xạ tuyến giáp, tủy xương.

  1. b.Tia cực tím

Tia cực tím trong ánh sáng mặt trời tác nhân gây UT da. Những người thường xuyên phải làm việc ngoài trời thiếu phương tiện che nắng nguy mắc UT da cao hơn những vùng da hở, nhất da vùng đầu mặt. Nguy này cao hơn những những người da trắng sống trong môi trường nhiệt đới (ví dụ người da trắng sống Úc). vậy, không nên tắm nắng dưới nắng gay gắt nhiều tia cực tím không nên tắm nắng quá nhiều.

3.2.3. Nhiễm vi-rút, vi khuẩn

Một số vi-rút, vi khuẩn có thể gây ung thư, cụ thể là:

  Vi-rút Epstein-Barr (EBV): có liên quan đến UT vòm mũi họng, UT hạch lymphô. Các trường hợp UT này gặp nhiều các nước châu Á châu Phi.

  Vi-rút viêm gan B: nguyên nhân gây UT gan nguyên phát. Việc phát hiện ra vi-rút viêm gan B nguyên nhân quan trọng gây UT gan đã mở ra hướng phòng bệnh hữu hiệu bằng cách tiêm chủng phòng bệnh viêm gan B.


  Vi-rút gây u nhú người (Papiloma Human Virus HPV):   nguyên nhân gây đến 70% UT tử cung phụ nữ. Vi-rút này lây truyền qua đường tình dục. Bệnh tỷ lệ mắc cao những phụ nữ có quan hệ tình dục sớm, đẻ nhiều hoặc nhiều bạn tình.

  Vi khuẩn Helicobacter pylori (HP): loại vi khuẩn vai trò quan trọng gây viêm loét dạ dày tá tràng và UT dạ dày. Đây cũng là một loại UT khá phổ biến ở Việt Nam một số nước châu Á khác.

4.2.4. Ít vận động thể lực

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ít vận động thể lực là nguyên nhân gây ra khoảng 21-25% trường hợp UT vú UT ruột (ngoài ra còn nguyên nhân của 27% trường hợp đái tháo đường 30% trường hợp mắc bệnh tim do thiếu máu cục bộ).

Vận động thể lực giúp tạo cho con người một sức khoẻ tốt, hạn chế được bệnh tật, kéo dài được tuổi thọ. Đối với bệnh UT, nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã khẳng định vận động thể lực yếu tố quan trọng góp phần phòng chống các bệnh UT.

Như  vậy, UT không phải do một nguyên nhân gây ra mà có rất nhiều nguyên nhân tùy theo mỗi loại UT. Hút thuốc chế độ dinh dưỡng không hợp hai nhóm nguyên nhân quan trọng nhất, gây ra nhiều loại UT nhất. Hạn chế tiếp xúc với các tác nhân gây UT biện pháp phòng bệnh UT hiệu quả, đơn giản kinh tế nhất trong chiến lược phòng chống UT mọi quốc gia.

4.2.5 Các yếu tố nguy khác  (không thể thay đổi được)

a) Tuổi

Mặc dù một số loại UT hay mắc ở trẻ em nhiều hơn như UT võng mạc mắt, UT máu, UT thận,… (có thể do di truyền hoặc tổn thương gien từ lúc bào thai), nhưng nhìn chung phần lớn UT hay gặp người lớn tuổi. Rất nhiều loại UT có tỷ lệ mắc tăng nhanh sau lứa tuổi 40 đỉnh điểm là sau tuổi 60. Lý do là càng nhiều tuổi, thời gian tiếp xúc, tích lũy các yếu tố nguy cơ càng nhiều. Càng nhiều tuổi, tế bào sinh sôi nhiều lần càng dễ sai sót gien khi phân chia. Càng nhiều tuổi, sức đề kháng của cơ thể chống lại bệnh tật càng giảm, UT càng dễ phát sinh.

  1. b)Giới tính

Nam giới hay mắc UT tuyến tiền liệt, UT dương vật, tinh hoàn; nữ giới hay mắc UT vú, cổ tử cung, buồng trứng, nhau thai, âm hộ; đó những bộ phận sinh dục đặc trưng mỗi giới.

c) Gien di truyền

Con người đến hơn 40 gien sinh UT các gien ức chế UT. một số gien thể di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Khi các gien đó bị tổn thương bất thường (đột biến) người đó dễ mắc một loại UT nào đó. dụ:

  Đột biến gien BRCA1 và BRCA2   thể mắc UT vú, UT buồng trứng.

  Một số hội chứng có tính di truyền có liên quan đến u nguyên bào thận (u Wilms) ở trẻ  em: hội chứng WAGR, Perlman, Simpson- Golabi-Behmel.

  Bệnh di truyền: đa u xơ thần kinh Von Reclinghausen lâu ngày có thể chuyển thành UT mềm…

 

Xem Tiếp tại đây…

GS-TS Nguyễn Bá Đức

Các bình luận trong “Tìm hiểu về Bệnh Ung thư

  1. Pingback: định nghĩa ung thư - taytou

Bình luận đã đóng.